Posted by: Viet Kieu | October 27, 2009

AI LÀ MẸ CỦA NÔNG ĐỨC MẠNH ?

Khi Nông Đức Mạnh(NĐM) được chọn làm Tổng Bí Thư Ban Chấp hành Trung Ương Đảng CSVN, nhiều lời bàn tán nổi lên nhưng chỉ qui vào thân thế hơn là sự nghiệp của ông ta. Theo đài Á Châu Tự Do (RFA) thì tại một nước mà tự do báo chí không có để tìm kiếm sự thật thì những lời xì xầm đồn đại lan truyền trong dân chúng lâu dần sẽ đương nhiên trở thành được coi như có giá trị. Do đó khi viết về đại hội đại biểu toàn quốc 4/2001 báo chí ngoại quốc đều nhắc đến những lời đồn đãi rằng NĐM là con rơi của Hồ Chí Minh (HCM) cha đẻ của cuộc cách mạng vô sản ở VN. Đại Sứ Australia là bà Sue Boyd – người nổi tiếng là bộc trực- đã hỏi thẳng NĐM có phải là con của Hồ Chí Minh không? NĐM trả lời “Ở Việt Nam ai cũng đều là con của Bác”. Câu trả lời vô thưởng vô phạt này có chủ đích lập lờ để không phải xác nhận sự thật mà cũng không bị mang tiếng là chối bỏ một sự thật.

Sau đó cũng gần một năm trên tạp chí Time, ấn bản vùng Á Châu phát hành ngày 23-1-2002 tại Hồng Kông- qua cuộc phỏng vấn của ký giả Kay Johnson- Tổng Bí Thư (TBT) Đảng CSVN lại một lần nữa lên tiếng về thân thế mình, bác bỏ tin đồn trước đây cho rằng ông ta là con rơi của HCM và một phụ nữ sắc tộc là Nông Thị Xuân. Ngày được nâng lên giữ chức TBT, vì quá bất ngờ với câu hỏi của bà Sue Boyd nên câu trả lời của NDM tuy khôn ngoan nhưng ai cũng hiểu đó là một sự tránh né.

Có lẽ nhận thấy im lặng quá lâu là mặc nhiên xác nhận tin đồn không tốt cho sự nghiệp chính trị của mình, là “con Vua thì được làm Vua”, lần này vì có chuẩn bị trước nên NĐM đã bác bỏ tin đồn một cách mạnh mẽ “Tôi phải lập lại và xác nhận rằng điều đó không đúng sự thật. Tôi có thể nói tên của cha mẹ tôi nhưng họ đã chết” Và NDM cho biết cha mình là Nông Văn Lai và mẹ là Hoàng Thị Nhị. Tổng Bí Thư Dảng CSVN tiếp theo cười cười :
“Nếu có ai nói tôi giống HCM, tôi nghĩ có nhiều người trông giống người ”
Người phỏng vấn hình như vẫn chưa hài lòng với câu trả lời nên lại hỏi : “Nên ông không liên hệ gì với HCM ?”
NĐM lập lại : “Tất cả mọi người VN là con của Bác Hồ. Tôi nghĩ toàn thể dân Việt xem HCM là cha tinh thần của họ và tôi cũng thế “.
Nghe đến đây phóng viên tờ Time nhấn mạnh một lần nữa : “Nhưng không phải là cha đẻ của ông?.”
NĐM quả quyết : “Chắc chắn là không “.

Viết về HCM thì không thể nào không nhắc đến những huyền thoại không những do đảng CSVN tô son điểm phấn cho ông mà ngay chính bản thân ông cũng tự hào về những dối trá đó. Hình như những suy tôn mà Đảng CS đã dành cho ông vẫn chưa đủ nên chính ông lại tự ca ngợi mình. Quả thật không ai ca ngợi HCM bằng chính ông ta. Trong các tài liệu về HCM cho biết “Bác” Hồ đã có tất cả vừa tên, vừa bí danh và bút danh từ A đến Z sơ khởi là 54 cái tên (VN Đẹp Nhất Có Tên Bác Hồ- trang 114- 122) nhưng lại bỏ sót mất 2 cái tên là Trần Dân Tiên và T. Lan là tác giả của 2 cuốn sách nâng HCM lên như một ông “Thánh sống” đến độ trơ trẽn vì từ trước đến nay có lẽ chỉ mình Bác là kẻ duy nhất tự viết sách để ca tụng mình qua vai trò Trần Dân Tiên và T.Lan, tự khen mình là khiêm tốn, không bao giờ nghĩ đến mình mà chỉ nghĩ đến nhân dân, phong cho mình là “cha già dân tộc”, ngạo mạn với các bậc tiền bối, xưng hô là “Bác” với mọi ngườì kể cả các cụ già. Một con người mà có thể hạ bút viết lên những điều như thế thì tất cả những huyền thoại về HCM đều là do ý muốn của ông ta.

Trong những lần dạy dỗ cán bộ đảng viên, HCM thường nhắc đến hai chữ “hủ hoá”, nhưng kỳ thực ông ta lại là người lăng nhăng tình cảm với nhiều phụ nữ hơn ai hết. Những tham khảo của các sử gia ngoại quốc cũng như tài liệu từ các quốc gia Pháp Nga cho thấy rõ điều này. Bùi Tín (BT) cho rằng “HCM cũng rất “người” ở chỗ không thể nào sống như một ông Thánh.” ( Hoa Xuyên Tuyết trang 112) Với Bùi Tín thì những chuyện “lăng nhăng” với phụ nữ “là chuyện riêng tư của cá nhân, không mấy quan trọng mà nó còn thấy HCM cũng là con người như mọi người”.

Đồng ý, con người sinh ra đều có tình cảm: yêu thương, giận hờn, ghen ghét trong đó tình yêu vợ chồng là tình cảm thiêng liêng không thể thiếu được. Thế nhưng HCM đã dấu hết tình cảm đó, cho mình là một “ông Thánh” hy sinh cả cuộc đời , sống cô độc lo cho dân cho nước. Thậm chí ăn ở với người ta có con, rồi ra lệnh giết người mẹ chỉ vì không muốn nhìn nhận vợ con. Nếu không có lệnh của HCM thì ai dám nhúng tay vào tội ác?. Thế mà HCM lúc nào cũng hãnh diện nhắc nhở cho thanh thiếu niên là “Học gì thì học chứ đừng học tánh hút thuốc và không lấy vợ của Bác nhé!”. Do đó nói lên sự thật không có nghĩa là moi móc đời tư mà là đánh đổ huyền thoại của một con người hai mặt nói thì tốt nhưng hành động thì xấu xa. Mồm thì hô hào là “đầy tớ ” của nhân dân nhưng lại mơ thấy mình làm vua là “cha” của thiên hạ :
Trong tù khoan khoái giấc ban trưa
Một giấc miên man liền mấy giờ
Mơ thấy cưỡi rồng trên thượng giới
Tỉnh ra trong ngục vẫn nằm trơ (Nhật Ký Trong Tù-1943)

Danh sách những phụ nữ có dính dáng đến cuộc đời của HCM thì nhiều, Pháp Nga Tàu Việt không thiếu. Quả thật “Bác là con người của nhân loại” ” trong lãnh vực “giao du tình cảm” cũng như trong lãnh vực “thuổng văn” mà Chế Lan Viên đã hết lòng biện hộ cho “Bác” về chuyện sao y câu của bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ. Nhân ngày sinh nhật thứ 114 của HCM chúng ta hãy hỏi tội “hủ hoá” của “Bác” với câu hỏi đặt ra là: – AI LÀ MẸ CỦA NÔNG ĐỨC MẠNH ?

Tiếng Việt của chúng ta thật là phong phú, đa dạng. Khi viết “Mẹ của NĐM là ai?” thì câu hỏi này không có gì đặc biệt – và câu trả lời là mẹ ông ta có thể là bà A, bà B, bà Mít , bà Xoài v. v… Nhưng khi chúng ta đặt chữ Ai ở đầu câu Ai là Mẹ của NĐM ? thì câu hỏi xem ra có phần mạnh mẽ hơn, hậu ý như là giữa những bà có tên là Marie Biere (Pháp), Tăng Tuyết Minh (Tàu), Vera Vasiliéva (Nga), Nguyễn Thị Minh Khai, Đỗ Thị Lạc, Nông Thị Xuân . . ai trong số đó là Mẹ của NĐM?

Dư luận cho rằng người đó là Nông Thị Xuân có lẽ vì bà Xuân cùng là họ Nông và lại cũng sinh cho HCM một đứa con trai. Tuy nhiên nếu xét về thời gian thì giả thuyết này không chấp nhận được. Câu chuyện Nông Thị Xuân đã được ông Nguyễn Minh Cần – đảng viên CS ly khai viết rất rõ ràng. Sau hiệp định Geneve 1954 HCM về Hà Nội làm Chủ Tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Năm 1955 Nông Thị Xuân 22 tuổi người Cao Bằng được đưa về Hà Nội để “phục vụ” HCM. Lúc đó “Bác” đã 65 tuổi rồi. Một năm sau, hạ sanh một con trai đặt tên là Nguyễn Tất Trung, cô Xuân ngỏ ý với “Bác” xin được hợp thức hoá hôn nhân để dọn về ở chung. “Bác” gật gù khen “ý kiến hợp tình hợp lý nhưng phải bàn với Bộ Chính Trị” đã. Sau đó cô Xuân bị giết, cả hai người em là cô Vàng và cô Nguyệt đến ở chung để trông cháu cho cô Xuân rảnh rang đi “phục vụ” “Bác”, cùng với bạn của cô Vàng là những người biết chuyện, đều lần lượt bị giết lây. Có tin sau khi câu chuyện này được tung ra hải ngoại thì mộ cô Xuân đã bị san bằng không còn dấu tích.

Nông Đức Mạnh, theo tài liệu của Đảng, thì sinh năm 1940, còn Nguyễn Tất Trung con cô Nông Thị Xuân thì sinh năm 1956, sự sai biệt quá cao dù rằng tên tuổi của người CS đôi khi không mấy đúng với lý lịch thật. Do đó nếu Nông Đức Mạnh là con HCM thì mẹ ông ta phải là người liên hệ với HCM vào khoảng thời gian HCM về nước ở Cao Bằng.

Theo tài liệu CS, thì HCM về nước vào ngày 8-2-1941 qua cột mốc 108 biên giới Việt Trung, đến ở tại hang Pắc Bó tỉnh Cao Bằng.Chung quanh hang có một con suối và một ngọn núi. Vừa đặt chân đến nơi HCM nghĩ ngay đến việc đặt tên là núi Karl Marx và suối Lenin. Trong hang, kế vách là một tháp đá thiên nhiên cao hơn đầu người đã được HCM vài ngày sau đó tạc thành tượng Karl Marx. Cũng tại nơi đây HCM đã dịch “Lịch Sử Đảng CS Liên Sô” ra tiếng Việt. Coi các lãnh tụ Liên sô là trên hết, HCM đã khóc lóc thảm thiết khi nghe tin Stalin chết. Cho nên bảo rằng HCM bị Stalin áp dụng kỷ luật vì “không biểu lộ tinh thần giai cấp và đặc tính thích đáng của tầng lớp vô sản quốc tế ” mà Bùi Tín đã trích dẫn từ tài liệu của Mạc Tư Khoa qua bài viết đăng trên tờ Time cuối tháng 8-1999 (Hà Nhân VN Nhật Báo 28-8-1999) thì quả thật là oan cho “Bác” quá đi mất thôi!

Địa thế hang Pắc Bó lại thông ra một con đường kín đáo dẫn sang bên kia biên giới..Cũng tại nơi đây HCM lại có một mối tình mà ít ai để ý đến và ngay những taì liệu trước đây cũng không hề nhắc đến. Nhân chuyện CSVN dâng đất nhường biển cho Trung cộng, các anh chị em trong nhóm “Câu Lạc Bộ Sinh Viên Việt Nam” ngày 24-2-2002 đã viết một bài có tựa đề “Cột Mốc 108 và Một Câu Chuyện Tình” ( Trong Bạch Thư tố cáo Việt cộng hiến đất dâng biển cho Trung Cộng trang 348,349). Mục đích của bài viết muốn nhấn mạnh cột mốc 108 biên giớI Việt Trung để chúng ta có dịp do sánh địa điểm này giữa hai thời điểm 1941 và 1999. Thế nhưng, Cột mốc biên giới đánh số 108 này cũng đã ghi lại dấu vết đầu tiên của HCM khi trở về nước và đã có một cuộc tình với cô gái Nùng họ Nông .

“Vào năm 1941 Nông Thị Ngát – còn có biệt danh là Nông Thị Trưng (tên do “Bác” Hồ đặt cho) là một cô gái tuổi đôi mươi người Tày rất đẹp có duyên nhưng lại mù chữ. Vốn trực thuộc cơ quan chi bộ phái của Trung Hoa Cộng sản Đảng tuyển chọn và huấn luyện để làm giao liên cho HCM, Nông Thị Trưng liên tục được HCM huấn luyện, bồi dưỡng, xoá dần mù chữ và một chuyện tình có thể xảy ra vào những năm tháng này”

Trên tờ Xuân Phụ Nữ năm Đinh Sửu 1997 xuất bản trong nước một bài viết có tựa đề “Cô Học Trò Nhỏ Của Bác Hồ” được tác giả Thiên Lý viết theo lời kể của chính đương sự Nông Thị Trưng đã cho thấy có sự gắn bó rất thắm thiết giữa người con gái Nùng tuổi đôi mươi với người đàn ông 51 tuổi trong cái hang Pác Bó gần cột mốc 108 này. Sau đây là nguyên văn bài viết:
“Tháng 7 năm 1941, được tin Châu Hà Quảng đưa lính cơ tới bắt, ngay đêm ấy tôi trốn ra rừng, rồi được Châu Ủy đem qua Bình Mãng (Trung Quốc) lánh nạn tại nhà một đảng viên đảng Cộng sản Trung Quốc. Một hôm đồng chí Lê Quảng Ba và Vũ Anh đến đón tôi từ Trung Quốc về Pắc Bó gặp Bác.. Về Pắc Bó đã nửa đêm, anh Đại Lâm người giữ trạm đầu nguồn đưa ngay chúng tôi đi gặp “ông Ké”.

Lội ngược suối càng đi nước càng sâu, khi đến thác thứ ba, anh Đại Lâm thổi sáo, từ trên thác có thang tre thả xuống. Trèo thang lên, thấy một cái lán dựng ngay trên bờ suối. Trong lán có ông cụ ngồi đọc sách. Tôi chắp tay “Cháu chào cụ ạ” ông cụ nhìn lên hai mắt rất sáng, ân cần bảo: “Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện.” Tôi nhìn xuống sàn, thấy toàn cây to bằng bắp chân. Cụ bảo hai lần tôi mới dám ngồi. Cụ tỉ mỉ hỏi gia cảnh, rồi khuyên tôi: “Từ nay cháu đã có một gia đình lớn là gia đình cách mạng, đừng luyến tiếc gia đình nhỏ nữa. Cháu cặm cụi làm ăn cũng không đủ để nộp sưu thuế đâu. Mình lấy lại được nước rồi từng gia đình sẽ được đàng hoàng. Từ nay ai hỏi thì cháu nói mình là cháu chú Thu, tên Trưng”. Bác đặt tên ấy là muốn tôi noi theo gương bà Trưng…

Từ đấy tôi ở lại lán anh Đại Lâm, mỗi ngày vào lán của Bác một giờ để học tập. Bác dạy cho tôi từ chuyện thế giới, chuyện cộng sản chủ nghĩa đến cả những cách ứng xử thường ngày như “Đừng làm một việc gì có thể khiến dân mất lòng tin. Mượn một cái kim, một con dao, một buổi là phải đem trả. Trong ba lô nếu có màn, phải để ở ngoài cửa, hỏi xem chủ nhà có bằng lòng mới đem vào. Cháu là nữ, trước bàn thờ có cái giường để các cụ ngồi ăn cỗ, cháu không được ngồi”. Tám tháng được Bác chỉ dạy tôi học được hơn cả mấy chục năm học lý luận tập trung sau này. Bà Nông Thị Trưng ngừng kể để uống nước. Tôi để ý thấy ngôi nhà yên vắng lạ, không có dấu hiệu một người thứ hai ngoài chủ nhân sống ở đây. Đồ vật trong nhà chỉ có chiếc giường, bộ bàn ghế gỗ thường, chiếc xe đạp nam và cái ti vi đen trắng cũ kỹ.

Nhân đang vui chuyện, tôi hỏi về gia đình bà, chồng bà là một cán bộ Việt Minh cùng hoạt động những năm ba mươi, đã mất năm 1986. Được bốn con trai một gái, nay đều ở riêng. Bà sống đơn chiếc, tự “phục vụ” hoàn toàn . Người phụ nữ giàu nghị lực ấy đã trải qua nhiều thời kỳ gian khổ trong kháng chiến, vừa hoạt động, vừa nuôi con. Thậm chí, có lúc quá khó khăn đã phải ngưng công tác. Và cũng chính bác Hồ đưa người nữ cán bộ miền núi ấy trở lại với công tác.

Trong dịp Quốc Hội đầu tiên, sau hoà bình, Bác mời các đại biểu Cao Bằng tới ăn cơm, thăm hỏi mọi cán bộ cơ sở cũ, và không quên cô học trò nhỏ ở Pắc Bó. “Trưng bây giờ làm gì ở đâu?”. Khi nghe trả lời: “Thưa Bác, chị Trưng nghỉ ở nhà”, Bác đổi sắc mặt, trách “Tại sao trước cách mạng khó khăn thế, nó vẫn hoạt động mà bây giờ lại nghỉ, các chú phải tìm hiểu rõ chứ”. Về sau, mỗi khi có dịp, Bác đều cử người gặp trực tiếp bà Trưng hỏi xem bà có gặp khó khăn gì để giúp đỡ.

Bác còn có cả một bài thơ tặng người học trò nhỏ của mình. Bà Trưng kể: “Hồi ấy giữa năm 1943 Bác mới ra khỏi nhà tù Trưởng Giới Thạch, trở về Lũng Cát ở trong một cái lán dưới chân núi. Một hôm Bác cho gọi tôi đến đưa cho một quyển vở và bảo rằng “Bác vừa dịch xong quyển Binh Pháp Tôn Tử, Bác cho cháu”. Tôi giở ra, thấy ở bìa trong có bốn câu thơ viết bằng mực tàu:
“Vở này ta tặng cháu yêu ta
Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là
Mong cháu ra công mà học tập
Mai sau cháu giúp nước non nhà.”
Tiếc thay , trong những năm kháng chiến, không có điều kiện bảo quản, quyển vở quí ấy đã bị mối xông mất .”

————-
Bài viết chấm dứt nơi đây.
Vừa gặp nhau lần đầu, người con gái Nùng chấp tay “Cháu chào cụ ạ”. Có lẽ tiếng “cụ” nghe không “êm ái” nên HCM dặn dò “Từ nay ai hỏi, thì cháu nói mình là cháu chú Thu, tên Trưng”. Và bí danh “Già Thu” và “Nông Thị Trưng ” được khai sinh ra từ đó. Từ trước đến nay ông Hồ vẫn xưng mình là Bác với tất cả mọi người, riêng đặc biệt chỉ có mỗi một mình Nông thị Ngát là được làm “cháu” của “Chú Thu” mà thôi

Qua lời kể trên đây thì tình cảm của “Chú Thu” dành cho “cháu Trưng” rất đậm đà thắm thiết “Mỗi ngày một giờ liên tục như thế gần một năm trời từ tháng 9-1941 cho đến 13-8-1942 thì lớp dạy kèm chấm dứt, “Chú Thu” qua Trung Quốc, bị bắt ., ra tù trở về lại Cao Bằng, tìm lại cô học trò xưa tặng nàng một bài thơ viết vài giòng trên quyển “binh thư” và kể từ đó tuy xa nhau nhưng “Chú Thu” vẫn theo dõi tận tình giúp đỡ cho “cô học trò nhỏ” của mình.

Tin từ nhóm “Câu Lạc Bộ Sinh Viên” cho biết thì “Kể từ đó Nông Thị Ngát đã vắng mặt khá lâu tại vùng biên giới này, mười năm sau Nông Thị Ngát bỗng nhiên được ưu đãi đặc biệt trở thành chánh án toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng. Người ta đặt câu hỏi việc gì đã xảy ra trong những năm tháng đó, Nông đã đóng góp gì mà chỉ sau mười năm trở thành tỉnh uỷ viên, uỷ viên ban chấp hành trung ương và là người đứng đầu ngành hành pháp tại một tỉnh xung yếu phía Bắc?

Như đã biết, tại Viêt Nam không có tự do báo chí, tất cả nằm trong tay Đảng. Nhà baó Kim Hạnh tổng biên tập của báo Tuổi Trẻ đã bị mất chức chỉ vì đăng tin HCM khi còn trẻ đã có một người vợ kèm theo đăng lá thư HCM gửi cho người vợ này. Vì sự thật đã không được phơi bày cho nên người dân chỉ còn biết đặt nghi vấn, tại sao Nông Thị Trưng lại được ưu đãi như thế? Tại sao tiểu sử Nông Đức Mạnh chỉ ghi: “Con một nhà cách mạng lão thành?” còn cô học trò nhỏ của ”Bác” thì chỉ hé mở chồng mình là “một cán bộ Việt minh cùng hoạt động những năm ba mươi” ?. Tại sao lại phải dấu tên tuổi như vậy?.

Gần đây hơn, đáng tin cậy nhất là William Duiker đã tường thuật lại, trong cuốn sách viết về Hồ Chí Minh (tái bản lần thứ hai) chuyện Nông Đức Mạnh đã tiết lộ với tác giả rằng ” MẸ TÔI, THÀNH VIÊN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ, ĐÃ PHỤC DỊCH CHO ÔNG HỒ VÀO NHỮNG NĂM ĐẦU TIÊN CỦA THẬP NIÊN 40…”
Một con người vốn bản tính lăng nhăng, thời gian ở ngoại quốc đã có tiếng là “anh thanh niên Quốc ăn mặc rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu, rất diện, xức cả nước hoa cực thơm..”(Hồ Chí Minh có mấy vợ- Trần Gia Phụng) mà nay lại đứng trước cảnh tượng “nửa đêm, giờ tý, canh ba” trong một nhà sàn thanh vắng ông “ké” nhìn lên, hai mắt sáng, ân cần bảo: “Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện” thì liệu “ông Ké” có làm ngơ được không nhất là khi nhan sắc của “cháu” Nông Thị Ngát lại mặn mà duyên dáng dễ làm say đắm lòng người !

Xem như thế thì câu chuyện Nông Thị Ngát là một nghi vấn có nhiều khả năng xác thật để trả lời cho câu hỏi : AI LÀ MẸ CỦA NÔNG ĐỨC MẠNH vậy ???.

Posted by: Viet Kieu | October 15, 2009

Bà con đọc kỹ chủ trương của Đảng Ta nhé!

Chung quanh vấn đề khai thác bô-xít ở Tây Nguyên


ND – Nước ta có nguồn tài nguyên bô-xít thuộc loại lớn, có trữ lượng được xếp hạng thứ ba trên thế giới, chủ yếu tập trung ở khu vực Tây Nguyên. Việc phát triển ngành công nghiệp khai thác bô-xít, sản xuất a-lu-min và nhôm kim loại đã được nghiên cứu, cân nhắc và quyết định thận trọng, phục vụ phát triển kinh tế đất nước nói chung, góp phần phát triển kinh tế xã hội Tây Nguyên nói riêng.

Quá trình chuẩn bị

Theo các kết quả thăm dò, trữ lượng bô-xít ở nước ta được xác định và dự báo khoảng 5,4 tỷ tấn. Ðây là nguồn lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước và khu vực Tây Nguyên. Chính vì lẽ đó, thăm dò, khai thác, chế biến bô-xít là chủ trương từ Ðại hội IX và Ðại hội X của Ðảng đến nay.

Triển khai các Nghị quyết Ðại hội Ðảng, trong hai nhiệm kỳ, Bộ Chính trị đã nhiều lần bàn và ra các Nghị quyết, kết luận để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng ngành công nghiệp bô-xít, a-lu-min – nhôm, phục vụ phát triển kinh tế đất nước nói chung, góp phần phát triển kinh tế – xã hội Tây Nguyên nói riêng. Thực hiện Nghị quyết của Ðảng, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng và phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bô-xít giai đoạn 2007 – 2015, có xét đến năm 2025 với bước đi cụ thể và chỉ đạo triển khai dự án khai thác bô-xít, a-lu-min – nhôm. Chính phủ đã giao cho Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản (TKV) là đơn vị có kinh nghiệm trong khai thác khoáng sản làm chủ đầu tư thực hiện dự án và chủ trì đàm phán với các đối tác nước ngoài. Việc phát triển ngành công nghiệp mới này đã được nghiên cứu, cân nhắc và quyết định thận trọng.

Nước ta có nguồn bô-xít lớn, nhưng nguồn điện năng hiện còn thiếu, giá điện công nghiệp bình quân cao. Do vậy, việc điện phân nhôm sẽ không hiệu quả và không khả thi trong giai đoạn đầu của quy hoạch. Trước mắt, để bảo đảm hiệu quả kinh tế, sẽ ưu tiên đầu tư các dự án sản xuất a-lu-min. Ðây là định hướng đúng, hợp lý và phù hợp hoàn cảnh thực tế nước ta cũng như kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp bô-xít, a-lu-min – nhôm trên thế giới. Việc đầu tư nhà máy điện phân nhôm được dự kiến trên cơ sở đầu tư đồng bộ tổ hợp Nhà máy điện – nhà máy điện phân nhôm vào giai đoạn sau năm 2010. Hiện nay, TKV đang triển khai các công tác chuẩn bị đầu tư cho dự án thủy điện Ðồng Nai 5 để phục vụ cho dự án luyện nhôm.

Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bô-xít giai đoạn 2007 – 2015, có xét đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 1-11-2007. Ðây là cơ sở quan trọng để chỉ đạo và quản lý ngành khai thác, chế biến bô-xít.

Những việc đã làm

Ðược Chính phủ giao thực hiện vai trò chính trong đầu tư phát triển công nghiệp nhôm ở Tây Nguyên, với mục tiêu phát triển công nghiệp nhôm thành ngành kinh tế mạnh của đất nước vào năm 2020, TKV đã tổ chức các đoàn khảo sát thực địa tại Ðác Nông và Lâm Ðồng, phục vụ lập các đề án thăm dò bô-xít, xác định nguồn nước, nguồn cung cấp vật liệu xây dựng, địa điểm xây dựng các cơ sở hậu cần; hợp tác với Công ty Trắc địa ảnh hàng không (Bộ Quốc phòng) tổ chức chụp ảnh hàng không và lập bản đồ ảnh hàng không toàn vùng mỏ bô-xít Ðác Nông, Lâm Ðồng; hoàn chỉnh hồ sơ xin cấp phép thăm dò và khai thác một số dự án.

Ðến nay, đã khởi công Tổ hợp bô-xít – nhôm Lâm Ðồng với nhà máy sản xuất a-lu-min công suất 600 nghìn tấn/năm do TKV là chủ đầu tư. Tại tổ hợp này, Công ty quốc tế công trình nhôm Trung Quốc Chalieco đã trúng thầu gói thầu xây dựng, vận hành, chuyển giao (EPC) Nhà máy a-lu-min. Tư vấn của chủ đầu tư là Viện Nghiên cứu cơ khí (NARIME) và các chuyên gia Ô-xtrây-li-a chuyên về lĩnh vực bô-xít – a-lu-min, nhôm. TKV đã đền bù, giải phóng mặt bằng 424 ha đất của 559 hộ dân (trong đó, có 77 hộ đồng bào dân tộc thiểu số), sẽ tiếp tục đền bù tiếp 980 ha đất của hơn 1.000 hộ dân (có 327 hộ đồng bào dân tộc thiểu số); số hộ dân yêu cầu tái định cư khoảng 700 hộ (có 230 hộ đồng bào dân tộc thiểu số). TKV đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng (đường giao thông, điện, nước) của khu tái định cư, đủ chỗ cho khoảng 730 hộ (giai đoạn 1). Gói thầu xây dựng, vận hành chuyển giao nhà máy a-lu-min đang được Chalieco thi công đúng tiến độ, dự kiến hoàn thành và bàn giao cho TKV đưa vào sản xuất cuối năm 2010; công trình nhà máy tuyển quặng sẽ khởi công xây dựng trong năm 2009 để đồng bộ với nhà máy a-lu-min.

Dự án Nhân Cơ (huyện Ðác R’lấp, Ðác Nông), nhà máy a-lu-min công suất 600 nghìn tấn/năm cũng do TKV là chủ đầu tư. Một số công việc bắt đầu triển khai. Theo ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, phải rà soát lại tất cả các vấn đề liên quan, nếu thật sự có hiệu quả và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường thì mới tiếp tục thực hiện.

Như vậy, tại hai dự án nói trên, TKV là chủ đầu tư, trực tiếp tổ chức khai thác bô-xít, chế biến a-lu-min; Công ty Chalieco (Trung Quốc) chỉ là nhà thầu xây dựng, vận hành và chuyển giao hai nhà máy a-lu-min và họ sẽ rút khi nhà máy được bàn giao cho chủ đầu tư. Theo khảo sát thực tế của phóng viên Báo Nhân Dân, để tiến hành triển khai thực hiện hợp đồng EPC hai nhà máy này, đến ngày 24-4, số lao động Trung Quốc có mặt tại Tổ hợp bô-xít Nhôm Lâm Ðồng là 583 người, trong đó có 38 nữ. Tại Ðác Nông, hiện nay mới có một số chuyên gia của Chalieco sang làm việc với các ngành chức năng của tỉnh Ðác Nông để tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, chứ không có lao động phổ thông người Trung Quốc làm việc tại Ðác Nông. Về vấn đề này, Bộ Chính trị chỉ đạo: phải sử dụng lao động trong nước, chỉ sử dụng lao động kỹ thuật nước ngoài khi cần thiết và phải quản lý tốt lao động nước ngoài.

Thế nhưng, do thiếu thông tin và không có sự tìm hiểu kỹ càng, một số người chẳng biết dựa vào đâu đã thông tin rằng, lao động Trung Quốc “rầm rập kéo vào Tây Nguyên”; rằng, “Người dân tộc thiểu số khốn khổ đã phải ngơ ngác thiên di đi nơi khác, nhường chỗ cho hàng nghìn công nhân Trung Quốc được nhập khẩu ồ ạt”; hay chính quyền đã “nhượng quyền khai thác quặng bô-xít “trọn g�

�i” từ khai thác tới chế biến thành bột a-lu-min rồi đưa về Trung Quốc tinh luyện thành nhôm”(!).

Phát triển công nghiệp nhôm gắn với phát triển bền vững kinh tế – xã hội địa phương không chỉ là nguyện vọng của Ðảng bộ, chính quyền, nhân dân tỉnh Ðác Nông, Lâm Ðồng, mà còn là nghĩa vụ và trách nhiệm của TKV. TKV cam kết áp dụng công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường trong việc khai thác, chế biến quặng bô-xít đi liền với hoàn thổ, trồng và bảo vệ rừng, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội vùng dự án, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân địa phương. Quặng bô-xít ở Tây Nguyên có bề dày 1 – 8 m, phân bổ trên đỉnh đồi đến sườn đồi (trên mực nước ngầm), dưới lớp đất phủ dày trung bình 1 – 1,2 m), nên việc khai thác quặng, TKV cam kết thực hiện theo phương pháp lộ thiên “cuốn chiếu” hết khoảnh này đến khoảnh khác, dịch chuyển theo thời gian, khai thác đi trước, hoàn thổ đi liền sau. Với nguyên tắc khai thác đến đâu, hoàn thổ đến đó, cho nên việc thuê đất để khai thác chỉ cần thời gian 1 – 2 năm và đất sau hoàn thổ có thể được bàn giao lại. Những cam kết của TKV cần phải được giám sát chặt chẽ để bảo đảm phát triển kinh tế phải gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường!

Khai thác và chế biến bô-xít có tác động đến môi trường, hệ sinh thái và xã hội Tây Nguyên. Tiếp thu ý kiến đóng góp đúng đắn của các đồng chí nguyên lãnh đạo cấp cao của Ðảng và Nhà nước, các nhà khoa học, của những người dân tâm huyết với sự phát triển bền vững của đất nước nói chung và của Tây Nguyên nói riêng, với hiệu quả toàn diện của các dự án khai thác bô-xít, sản xuất a-lu-min và nhôm, Bộ Chính trị đã giao Ban Cán sự Ðảng Chính phủ chỉ đạo rà soát, điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của cả nước và khu vực Tây Nguyên trong từng thời kỳ; gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm an sinh xã hội, phù hợp với nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế, đạt hiệu quả toàn diện. Kết luận của Bộ Chính trị cũng chỉ rõ: “Khẩn trương lập báo cáo môi trường chiến lược và báo cáo đánh giá tác động môi trường của từng dự án để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp. Riêng dự án Nhân Cơ, cần rà soát lại toàn bộ các vấn đề có liên quan, nhất là việc đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường, nếu thực sự có hiệu quả và bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường thì mới tiếp tục triển khai thực hiện”.

Tất cả những việc làm trên thể hiện sự cẩn trọng, cân nhắc kỹ lưỡng của Ðảng và Nhà nước ta trước một dự án lớn. Ðồng thời, cũng thể hiện tinh thần cầu thị, lắng nghe và tiếp thu các ý kiến đóng góp, tâm huyết của cán bộ, đảng viên và nhân dân, bảo đảm cho dự án đạt hiệu quả toàn diện cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và gìn giữ môi trường. Vì vậy, cần phải có những thông tin đầy đủ, toàn diện về dự án để tránh những bức xúc do thiếu thông tin hoặc do thông tin sai lạc. Nhất là, cần cảnh giác và có thái độ rõ ràng, kiên quyết với những mưu toan chính trị hóa vấn đề của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí, muốn chia rẽ nội bộ chúng ta; xuyên tạc sự thật, lợi dụng những tình cảm thiêng liêng trong trái tim, khối óc mỗi người để kích động hòng thực hiện những mưu đồ xấu xa của họ.

Posted by: Viet Kieu | October 15, 2009

Hôm nay, ngày 30/04, là ngày gì??

Làm một cuộc kiểm tra sơ bộ với 8 em học sinh THPT mà mình biết

3 em trả lời : ngày giải phóng đất nước
1 em : ngày quốc khánh
5 em còn lại : ngày nghỉ lễ 30/4

Qua những lần nói chuyện, mình phát hiện ra rằng, lớp trẻ sau mình (mà nhiều lúc là cả các bạn mình), đã và đang thờ ơ với lịch sử.
Với họ, lịch sử là môn học thuộc lòng ở trường, học để kiểm tra miệng, kiểm tra 15′, rồi thi. Học xong thì quên tuốt luốt, chữ nghĩa trả thầy, trả cô.
Trách ai bây giờ?? Khi chính mình biết có bà viện trưởng viện nghiên cứu lịch sử nọ chỉ thích nghe và đọc thời sự tuổi teen, chỉ thích bình luận đến sao teen trên blog, hoặc viết nhăng, viết cuội chứ không dám đụng đến lịch sử.

Trách những người che giấu lịch sử, trách hệ thống giáo dục rèn luyện con người trở nên đớn hèn trước bất công áp bức.

Ngày của lịch sử được nhắc đến với cái quá khứ đầy hào hùng (còn tuỳ người) bằng những bức ảnh, những thước phim.
Lớp trẻ cứ thế mà ngủ quên, cứ thế mà hưởng thụ.

Ngày của lịch sử – ngày mà nhiều người mất đi tự do, mất đi mái nhà, mất người thân.
Ngày của lịch sử – ngày đánh dấu sự thụt lùi của đất nước.
Ngày của lịch sử – ngày đói kém xhcn được lần đầu hưởng thụ bơ sữa và cứ thế như một con muỗi đang khát máu, họ nhân danh hòa bình, tự do, dân chủ để rúc rỉa và làm thui chột cả một đất nước.

Hôm nay, ngày của lịch sử, nên chăng chỉ nhìn lại lịch sử mà không màng đến tương lai???

Hôm nay, ngày của lịch sử, bạn và tôi, chúng ta nên đọc bài thơ này để ngẫm, để nghĩ nhé bạn!

Posted by: Viet Kieu | October 15, 2009

NÓI VỚI CON NHÂN NGÀY BUỒN CỦA LỊCH SỬ

Một bức thư, đọc và chảy nước mắt!

Viết cho con trai vừa có bằng lái xe

Vậy là chỉ sau một giấc ngủ dài trên máy bay, con đến Mỹ, đặt chân xuống sân bay Chicago tráng lệ. Chỉ sau một đêm, con giã từ bạn bè, góc phố thân quen, mái trường cũ…, để làm quen với một thế giới khác.

Cái thế giới mới mẻ của Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ, quả kỳ lạ phải không con? Nơi mà sự ân cần, thân thiện của chú hải quan nơi phi trường, chị da đen ở Sở An sinh xã hội, và mọi nhân viên công quyền khác làm cho cha con ta lạ lẫm. Nơi mà con vào công viên chơi bóng rổ, không phải trả tiền như trăm ngàn đứa trẻ Hoa kỳ khác. Đó là một ân sủng, khi thoát khỏi văn mẫu, đề thi sai, chạy trường chạy lớp, con bước vào một hệ thống giáo dục khác, nơi mà cơ hội đồng đều cho mọi người. Không có biệt lệ cho bất cứ con ông cháu cha nào cả.

Đó là lý do vì sao ta trào nước mắt, khi thấy các con trai ta, sung sướng, hồn nhiên chơi bóng rổ dưới bóng lá cờ sao vạch của một đất nước khác, không phải quê hương.

Giấc mơ Mỹ, quả là vĩ đại, không phải vì sự to lớn của nó, mà vì nó là của riêng con, riêng cho từng người. Và nó sẽ là sự thực, không phải là những lời phét lác huênh hoang của một thiên đường dối trá.

Chúc mừng con, con trai ta ạ!

Chỉ sáu tháng sau, ta thầm cám ơn trời đất, ông bà khi gặp lại con. Con chững chạc, cao lớn, tự tin như bao thanh niên khác trên đất Mỹ. Con không còn từ chỗ mỗi ngày trở về nhà nhớp nhúa, hôi hám, kiệt sức với khói xe, bụi đường, nước cống ngập đen xì. Con đậu bằng lái xe hơi ở Mỹ, kết quả của một cuộc thi cử công bằng và nghiêm túc. Con có quyền tự hào khi được ngồi sau tay lái, ung dung chen vào đoàn xe xuôi ngược ngày đêm trên hệ thống xa lộ vĩ đại nơi đây. Con đã được một quyền cơ bản, quyền lái xe, một cách danh chính ngôn thuận, mà không phải chạy chọt, dấm dúi như bao người khác ở quê nhà. Ở Mỹ, có bằng lái xe là một sự kiện lớn trong đời đó con!

Chúc mừng con, con trai ta ạ!

Các con ta, mỗi ngày cắp sách đến trường, về nhà không kiệt sức, không cùn mằn trong sự học nơi đây. Quyền đi học trong phẩm giá và niềm vui, quyền được hưởng thụ một nền giáo dục chính trực, công bằng, các con đã có! Đó là điều duy nhất, mà ta châm chước cho cái xã hội vừa xấu xa nhất, vừa tốt đẹp nhất theo kiểu Hoa kỳ.

Chúc mừng con, con trai ta ạ!

Ta biết là ta may mắn khi có những đứa con trai như vậy!

Chỉ có một điều: con không muốn về Việt nam nữa!

Ta hơi chựng lại, nhưng ngẫm nghĩ một hồi, ta chẳng ngạc nhiên. Chỉ mới 6 tháng, ký ức đen của con về trường lớp, kẹt xe, khói bụi, tai nạn…vẫn chưa kịp phai nhạt. Con ghê sợ những điều ấy, cũng như ta, như trăm ngàn người Sài gon khốn khổ khác. Con vẫn chưa quên sự phẫn nộ về một hệ thống giáo dục đầy bất công và tiêu cực. Con vẫn chưa quên những phi vụ tham nhũng bẩn thỉu đầy trên các báo ở nhà. Và bao nhiêu điều tội nghiệp đáng buồn khác, ai mà quên được?

Nhưng mà con ơi, dù nhếch nhác thảm hại đến vậy, đó vẫn là quê hương con. Nơi đó, có một Sài gòn, mà cha con ta đã từng rong ruổi. Nơi con cất tiếng chào đời, nơi con lẫm chẩm những bước đầu tiên. Nơi con nói những tiếng Việt đầu tiên “từ thuở nằm nôi”. Kể cả những điều nhỏ nhặt nhất, từ quán phở ám khói cha con ta hay ngồi, từ hiệu video con ghé, từ quán café nhìn ra sông lộng gió cha con ta ngồi tán gẫu. Tất cả những điều tưởng như vô nghĩa với cuộc sống hào nhoáng nơi đây, nhưng là ký ức, đó là quê hương máu thịt con ạ!

Con đã bị nhồi vào đầu những kiến thức sử học nhàm chám, khô khan, đầy máu và căm thù. Con đã học niềm vinh quang dối trá từ nồi da xáo thịt, từ huynh đệ tương tàn. Con đã đọc sách thấy vì nhân danh lý tưởng, niềm tin, người ta đấu tố cha mẹ anh em. Sự hung bạo, được ngụy tín dưới vỏ niềm tin. Sự mù quáng, được đậy điệm bằng lòng kiên định trung thành…

Con không thể yêu quê cha đất tổ từ những điều giả trá ấy.

Hãy về đây! Ta sẽ đem con đến Yên Tử, kể cho con nghe chuyện đánh Nguyên Mông, dưới bóng tùng già 700 năm tuổi, phủ bóng lên mộ Trúc Lâm tam tổ. Ta sẽ chỉ cho con bãi cọc của Hưng Đạo Đại vương nơi bến Bạch Đằng, nơi gã lính viễn chinh xâm lược khi nhớ đến phải run sợ mà bạc cả đầu. Ta sẽ dẫn con đến ngôi từ đường đơn sơ mộc mạc của bà Bùi Thị Xuân, cúi lạy anh linh nữ tướng. Ta sẽ dẫn con đến đèo Ngang lúc “bóng xế tà”, cho con hiểu sự thanh cao của một tâm hồn Việt. Trên ngọn sóng bạc đầu Chương Dương, ta sẽ chỉ cho con những dấu chân xưa của Yết Kiêu, Dã Tượng, và của muôn vạn dân binh áo vải khác đã ngã xuống cho “đất nước vững thiên thu”.

Nhớ lại đi con, con trai nhỏ của ta! Con đã đặt chân đến Vạn lý Trường thành, ghê sợ cái nghĩa trang ngập xương máu lớn nhất hành tinh. Con đã thấy một Bắc kinh hào nhoáng nhưng xấu xí với khói, bụi, ô nhiễm, khạc nhổ, oang oang nơi công cộng. Con đã thấy cảnh bắt người bán hàng rong như súc vật ngay chân Tử Cấm Thành. Con cũng đã thương hại gã Trung hoa khốn khổ, lắp bắp một thứ tiếng Anh giả cầy khi bị quát tháo nơi sân bay quôc tế. Đất nước chúng ta, vẫn trường tồn dưới ách một gã khổng lồ, dơ bẩn và man rợ như vậy đó con. Vì sao hôm nay ta không để tóc đuôi sam, con không ê a Hán tự, chúng ta không nhồm nhoàm những món ăn man rợ như óc khỉ, chân gà sống nướng? Vì sao chúng ta không bị đồng hóa theo lũ Thái thú dơ bẩn kia, nếu không phải vì khí thiêng sông núi, anh linh tiên tổ đang chảy trong con?

Quê hương con đó!

Nhiều lắm con, nhiều chỗ để chỉ cho con thấy, dân tộc mình đã oai hùng, kiêu dũng, thanh sạch và khổ đau đến mức nào để có con sinh thành hôm nay.

Hoặc nếu thì giờ eo hẹp, con hãy về một miền quê cát trắng, nơi ông bà, tổ tiên con yên nghỉ dưới bóng phi lao vi vút. Họ đã sống, đổ mồ hôi trên mảnh đất này, như một người nông dân lành và lương thiện như đất. Họ về với đất, trong vinh dự âm thầm, không như những ngụy -danh-nhân với lăng tẩm đền đài đồ sộ.

Quê hương con đó!

Sài gòn mà con ca thán, đâu phải thế! Sài gòn ngày xưa �
�ẹp, thanh bình với “con đường Duy Tân cây dài bóng mát”, với “Trưng Vương khung cửa mùa thu”. Sài gòn mà con ngưỡng mộ qua những ca khúc vượt thời gian, qua những người Sài gòn xưa mà con hết lòng khâm phục. Sài gòn nay, như một cô gái đẹp bị lũ du côn rạch mặt, nham nhở đến tội nghiệp. Hỗn độn, xấu xí, bẩn thỉu, và hỗn hào so với Hòn ngọc Viễn đông xưa.

Quê hương con đó!

Một ngày kia, con sẽ hiểu: đó là một phần máu thịt trong con. Con sẽ quay về với nó, như con cáo nhớ hang, con chim nhớ tổ. Con sẽ có cảm giác về nhà – coming home- như ta mỗi lần quay lại từ một thế giới đầy ánh sáng, đặt chân xuống Tân Sơn Nhất. Cái cảm giác tìm về tổ đó, nó là bản năng, nó dẫn dắt người Do thái quay về với mảnh đất Sion cằn cỗi, nó là niềm đau đáu của 2 triệu đồng bào con nơi đất khách. Không giải thích được bản năng tìm về cội nguồn đâu, con ạ! Mà cội nguồn con, đâu phải là Sài gòn hỗn độn hôm nay. Cội nguồn con đã bắt đầu, khi Lang Liêu mở tấm bánh chưng xanh mộc mạc tạ ơn trời đất. Gốc rễ con, đang phôi thai với mẹ Âu Cơ đem con lên rừng xuống biển.

Về đây con! Về “mặc áo the, đi guốc mộc”, về mà “nghe chuyện tình bằng lời ca dao” , về để nhìn “bóng tre êm ru” lẫn “con diều vật vờ”, để thấy “trong đêm sao mờ lòng ta bâng khuâng theo gió vi vu”…Con đã lớn lên với ta, với những ca khúc này mà!

Ngày con về, chắc tóc ta đã bạc như lau như lách. Nhưng có hề chi, nếu máu ta vẫn chảy trong con lòng thương nhớ cội nguồn không bao giờ có tuổi.

Nhớ về, nghe con!

30.4.2009

Posted by: Viet Kieu | October 15, 2009

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

Ngày nào đưa bạn con đi học nhà trẻ nhà bà mình đều phải đi ngang qua tòa án, rồi đập vào mắt là vô số khẩu hiệu, băng rôn kêu gọi sự công bằng, lợi ích mà luật pháp đem lại, kêu gọi mọi người sống và làm việc theo pháp luật……

Rồi mình ngộ ra cái chân lý bé bỏng này trong ngày hôm qua.
– Nơi mà mình đang sống dường như không có sự hiện diện của luật pháp.
Này nhé, không phạm tội cũng thành có tội, có tội tày đình thì cũng chỉ cần vài chiêu là có thể hóa giải nhẹ bâng, gọn hơ đi ngay.
Luật pháp là phương tiện để trừng phạt hơn là đưa lại sự công lý.

Dẫn chứng đây :
– Nếu bạn có ý định đi biểu tình chống tụi cho-na-chí xâm lược, có ý định lên tiếng vì quyền lợi, lợi ích của con người, có ý định đòi tự do dân chủ thì tốt nhất là bạn phải kiểm tra lại xem coi mình có căn nhà, căn hộ hay căn phòng nào đang cho thuê không. Phải hết sức thận trọng trong vấn đề này, bởi nếu không bạn có thể sẽ bị kết tội trốn thuế, không thực hiện nghĩa vụ với nhà nước. Tội danh này được thành lập dưới mọi hình thức, sẽ bị kết án tù và quên đi hai từ ân xá trong các dịp lễ Tết.

– Nếu bạn có nhận tiền hối lộ cỡ 820.000$ trở lên thì yên tâm, bởi cùng lắm là chỉ bị xử tội lợi dụng chức vụ để cho đối tác thuê nhà làm ăn .

Túm lại là mình khuyên các bạn:
– Nếu có ý định đi biểu tình chống cho-na-chí, biểu tình vì sự thật, công lý, tự do, dân chủ thì nên cẩn thận với việc cho thuê nhà.
– Còn nếu đã, đang và sẽ nhận hối lộ thì cứ yên tâm hưởng thụ rồi tìm sẵn vài cái nhà để cho thuê. Đây là một tuyệt chiêu rất đáng học hỏi và nhân rộng trong thời gian tới.

Posted by: Viet Kieu | October 15, 2009

Phải học nông dân

Mới hôm nào trong trận lụt úng phủ mặt Hà Nội, có nơi củ su hào bằng vốc tay giá lên hai chục, mớ muống mớ cần mười lăm hai mươi ngàn , nghĩ mà giận người trồng và buôn bán rau, ngỡ họ là bọn đục nước béo cò. Hôm nay giáp rằm tháng giêng trở ra, các chợ xanh củ su hào to ngót nửa cân non sớt, giá một ngàn chưa mặc cả. Nếu mua còn được tặng theo một nụ cười dù không tươi lắm. Tưởng thế là quá rẻ thì một cô vừa ở Hải Dương lên than vãn: dưới tôi một ngàn bốn củ. Mua giống hai trăm một cây cộng với hai tháng trồng, mỗi cây thu năm trăm đồng còn cả công lẫn phân bón. Nghĩ lại thương người trồng rau. Các loại rau cỏ khác cũng như thế, giá thường phập phềnh theo mặt nước lên xuống. Qủa là chỉ có người nông dân hiểu thế nào là thuyền lên nước lên, thế nào là kinh tế thị trường.

Bây giờ nghĩ lại mới thấy cái giá củ su hào cao ngất ngư trong ngày lụt kia cũng chẳng có gì quá đáng. Hỏi mấy mươi năm người trồng rau mới có cái giá ấy, và được hưởng mấy ngày trong cả mấy ngàn ngày. Lúc giá rẻ nhèo, rau phải cắt làm phân bón thì lại chẳng thấy ai kêu hộ anh nông dân, chẳng thấy báo chí nào nhắc nhở về tình người để người nông dân mát ruột cho bõ lúc bị lên án vì trót tăng đột biến giá củ su hào.

Ngẫm ra có lẽ anh nông dân ít học, kém kiến thức về thị trường lại hóa ra tuân thủ qui luật thị trường thuyền lên nước lên hơn cả.

Ngẫm ra lại càng ngại mặt mấy ngành kinh doanh của nhà nước lúc nào cũng tuyên bố kinh tế thị trường lại lì lợm nhất trong giá cả. Họ chỉ biết có ngành mình, ngồi trong nhà lầu, đít kê trên ghế đệm nhung, tay xách ca-táp tiền, lấy ống nhòm quan sát qua cửa kính để làm chính sách trên mây. Có thể chỉ mặt anh điện lực, vì ỉ thế độc quyền, lại là con cưng của nhà nước được bênh nên chẳng bao giờ cần hạ giá khi nước rút. Bây giờ sản xuất đình đốn, tăng giá đến hơn tám phần trăm, hạ nửa số đầu giá thấp từ 100 xuống 50 để vét thêm tiền, mà lại cứ xơi xơi là làm lợi cho dân, ai nghe nổi trừ miệng ông nói tai ông nghe! Hôm nay giá nước ăn theo tăng lên 3% rồi đấy. Rồi đây các loại giá hàng sẽ loạn cào cào, các nhà hoạch định chính sách giá vĩ mô ơi! Bây giờ chỉ có chàng viễn thông còn tạm gần anh nông dân một chút ít về cách làm giá. Cũng bởi là nhờ có Việt-theo bên quân đội luôn tìm cách giảm giá chiêu mộ khách hàng nên Vina-phôn cũng trở nên biết điều đôi chút. Nếu không họ cũng bám theo điện, theo xăng dầu chứ chẳng chịu kém cạnh!.

Có lẽ phải kêu gọi một số ngành kinh doanh của nhà nước học anh nông dân về kinh tế thị trường.

Posted by: Viet Kieu | October 15, 2009

Nước nhục thì rửa bằng gì?

Năm 2008 đã kết thúc với nhiều tai tiếng ê chề cho hai chữ Việt nam. Ngoài việc tẩy chay của chính phủ Czech với tấm hộ chiếu Việt nam, vụ ăn cắp và vận chuyển hàng lậu của một vài nhân viên Việt nam Airlines có lẽ là giọt nước cuối cùng, làm tràn ly nước bài Việt của người Nhật. Nói không ngoa, scandale mới nhất, trong vô số scandale của hãng hàng không “quốc gia” đầy tai tiếng này, cũng đưa nỗi nhục nhã về quốc thể lên ngang tầm quốc gia, mà bất cứ người nào còn cho mình mang dòng máu Việt, cũng không khỏi ngẫm nghĩ với nhiều luồng dư luận trái chiều. Đã có một số người Nhật cực đoan, gọi những đồng bào của tôi trên đất Nhật là “lũ giòi bọ”.

Một nhà báo nổi tiếng, buông thõng một câu trên blog của mình: “nhục như con cá nục”!

Đám tả khuynh hiếu sát đã từng mắng nhiếc cụ Kiệt, đòi ném khi độc sarine vào các tín hữu Thái hà thì im hơi lặng tiếng.

Cũng vậy, một số tín hữu công giáo thì hả hê: “thiên bất dung gian”, giờ thì lời Cha Kiệt được báo ứng nhãn tiền! Quả là việc Chúa làm!”

Tôi thì không tin đó là “việc Chúa làm”. Sự bôi nhọ, nỗi ô nhục của một dân tộc bị khinh miệt là đồ ăn cắp, đĩ điếm, buôn người, không thể là ý định của bất cứ thần thánh nào trên đời. Huống hồ là Jesus Christ, một Đấng lãnh tụ tôn giáo lành như đất, kẻ đã tha thứ cho người đàn bà ngoại tình, người đã đặt trẻ em ngồi lên đùi hết sức nhân từ trong lúc thuyết giảng.

Chúa nào, Phật nào gởi tặng chúng ta sự ô nhục này? Không phải thế! Trong nỗi ê chề của quốc thể bị lăng nhục, tại sao chúng ta không nhìn lại mình, nhìn lại cái gọi là “những thành quả giáo dục” của mình? Đến nỗi nào, nền giáo dục của chúng ta đã sản sinh một số không ít, hay nói quá lên, là cả một thế hệ thực dụng đến mức chà đạp lên cả những nguyên tắc tối thiểu về đạo đức, để cả thế giới phải khinh miệt như thế?

Viên phi công, hay các tòng phạm của Vietnam Airlines, ắt hẳn không phải là người vô học. Ngược lại, cơ chế đặc quyền đặc lợi đầy rẫy trong xã hội Việt nam đương đại, càng làm cho tôi tin chắc rằng: họ là những cậu ấm, cô chiêu của xã hội, được cưng chiều, thụ hưởng những điều kiện tốt nhất về giáo dục nữa là khác. Chẳng nên dùng lý do học vấn, hay đói rách về kinh tế để giải thích cho những hành vi tội nghiệp của họ. Mà phải nhìn lại nền giáo dục của họ, của gia đình họ đã gieo trồng.

Một nền giáo dục sản sinh ra những con người như vậy, ắt hẳn là một nền giáo dục bệnh hoạn, và cần được thay đổi tận gốc! Về vấn đề to tát này, nhiều bậc khả kính đã bàn, đã dũng cảm mổ xẻ, chắc không phải nói thêm gì nhiều, với vốn liếng hiểu biết của tôi vốn không nhiều nhặng gì trong lãnh vực này.

Rõ ràng, chúng ta đã gieo trồng các giá trị ảo, hay nói thẳng ra, là những giá trị giả dối. Chẳng nói đâu xa, từ một em bé đốt kho xăng được ông Trần Huy Liệu, bộ trưởng tuyên truyền thời ấy, ngụy tạo thành một anh hùng dân tộc ảo, chúng ta đã gầy dựng nên một lòng yêu nước giả tạo và rỗng chân. Chúng ta nhồi vào đầu con trẻ những khái niệm to tát về tổ quốc, đồng bào. Nhưng trẻ em của chúng ta không hề biết ngừng công việc, đứng nghiêm mỗi khi thượng kỳ. Trẻ em của chúng ta biết ủng hộ nhân dân Cuba, biết mua lại ve chai để làm kế hoạch nhỏ, xây đoàn tàu Thống Nhất, nhưng không biết ngả nón khi thấy xe tang, không biết nhường chỗ cho cụ già, phụ nữ nơi công cộng. Trẻ em của chúng ta có thể nói vanh vách về “ba dòng thác “, nhưng dửng dưng lạnh nhạt khi nghe đến Trúc Lâm Yên Tử với vị vua quá đỗi cao minh và nhân từ, vượt qua mọi thời đại. Thanh niên của chúng ta cay cú ném đá cụ Kiệt, như một hành động biểu trưng cho lòng tự hào dân tộc, nhưng cũng thẳng tay bẻ vặt trong lễ hội hoa đào Việt Nhật, giữa ban ngày ban mặt. Thanh niên của chúng ta hồ hởi xuống đường sau một bàn thắng, nhưng cũng ngang nhiên cản đường xe cứu thương chuyển bệnh.

Chỉ nên đấm ngực ăn năn, vì một nền giáo dục giả tạo, khiên cưỡng như vậy đã “đơm hoa kết quả”, không những cho một, mà là nhiều thế hệ người đi học Việt nam. Không ít trí thức Việt nam dễ dàng bán mình cho những quyền lợi tầm thường và phi pháp. Mà thời nào cũng vậy, người đọc sách mà phải bán mình, thì còn bi thảm và tội nghiệp hơn cả một cô gái đứng đường, xét về bình diện cá nhân và dân tộc.

Tại sao, chúng ta không quay về với những giá trị đích thực của dân tộc đã ghi đầy trong chính sử? Chí bất khuất, lòng kiên cường, lẽ khoan dung…của một lịch sử đầy oan khiên và bất hạnh như dân tộc Việt, không lẽ không thể gieo vào lòng người đi học Việt những giá trị đạo đức căn bản và vĩnh cửu?

Việc làm chính đáng đó, là công việc của các nhà giáo dục, xã hội…hay của vô số “nhà”, giáo sư, tiến sĩ…đang đầy rẫy trong xã hội chúng ta. Tôi, người ngoài ngành giáo dục, chỉ xin thưa thốt một điều: Các giá trị thật, chỉ có các giá trị thật, mới có thể tồn lưu và kết hoa trái thành một lòng yêu nước, yêu quốc sỉ đúng mực và chính đáng, như nó phải có!

Còn nhớ lúc còn thơ, dấm dúi đọc “Tâm hồn cao thượng” của Amicis qua bản dịch của Hà Mai Anh. Những bài học yêu nước, thương nhà, thờ cha kính mẹ, đùm bọc bạn bè, tôn kính thầy cô…tuy từ một nước Ý xa xôi, nhưng chẳng thể nào quên được, cho đến khi tóc chẳng còn xanh vẫn nhớ.

Vì nó thực và sống động!

Hay nhún vai buông thõng như bạn tôi, một đạo diễn tài hoa: “tớ đọc Amicis từ bé, lâu ngày thấm mẹ nó vào máu!”

Nỗi nhục nhã từ Czech, Nam Phi, Nhật bản…sẽ không bao giờ rửa được, nếu như những bài học đạo đức giản đơn, sống động và có thực mà thế hệ chúng tôi được học, chưa “thấm m. nó vào máu” của những “con người mới” của xã hội hôm nay.

Giật mình nghĩ ngợi, mới thấy bạn tuy bổ bã, nhưng rất mực thâm trầm, phải không?

Sài gòn, ngày 1.1.2009

http://www.nhandan.com.vn/tinbaidadang/noidung/?top=37⊂=130&article=152613

Báo Nhân Dân đưa tin về đoàn KTTU đảng cộng sản Việt Nam do ông Nguyễn Văn Chi sang  Trung Quốc. Việc đưa tin là chuyện bình thường, ở đây Lái Gió không bàn đến ý nghĩa, tính chất của cuộc bôn ba tầm sư học đạo của ông Nguyễn Văn Chi. Mà chỉ nói đến cách hành văn của tờ báo Nhân Dân.

Những từ ngữ, hình ảnh mà báo Nhân Dân đưa về phía Trung Quốc là tiếp đón thân mật, đánh giá cao và ông Hạ Quốc Cường …nhờ chuyển lời hỏi thăm.

Còn về phía Việt Nam báo Nhân Dân dùng hình ảnh và từ ngữ như sau. Ông Nguyễn Văn Chi trân trọng chuyển lời hỏi thăm…bày tỏ vui mừng, bày tỏ tin tưởng….

Không phải là bới bèo ra bọ hay vạch lá tìm sâu. Nhưng một cuộc làm việc ở cấp cao hai Đảng thế này, nhất là Đảng lãnh đạo duy nhất đất nước. Đồng nghĩa người đại diện cao nhất trong đoàn là đại diện cho Đảng và đất nước. Báo Nhân Dân dùng những từ ngữ hình ảnh đọc cảm thấy như thời xa xưa những đoàn sứ An Nam sang Đại Hán chầu vậy. Lẽ nào trong kho tàng ngôn ngữ Việt Nam phong phú đến vậy, mà báo ND chọn những từ ngữ này phải chăng cố tình khiêm nhường  hình ảnh của đoàn Việt Nam. Riêng với câu một bên nhờ chuyển còn một bên trân trọng nhờ chuyển. Đọc mà cảm giác đau đáu, tờ báo viết ngay trên đất nước mình, một tờ báo lớn nhất mà cách dùng câu chữ đã không thấy công bằng, thấy nhún nhường. Xin chớ nói đây là phép lịch sự ngoại giao.

Từ lâu nay trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc khi có thiệt thòi về phía Việt Nam về đất đai, lãnh thổ hay gì đó. Chúng ta thường hay thấy luận điệu sau

– Thôi chúng ta ở cạnh nước lớn, phải nhún một tí , khéo léo lấy lòng họ.

Ngay cả ông Dương Danh Dy người hay lớn tiếng quan tâm đến vấn đề lãnh thổ Việt Nam cũng hay dùng ý này để trình bày , thậm chí ông còn mang cuộc nói chuyện với Thái Lan ra để nói rằng  Việt Nam khổ lắm, không như Thái Lan đâu vì ở cạnh TQ. Lúc đầu có thể nghĩ đây là một ý kiến của số người, nó là ý ngoài luồng tồn tại trong ý nghĩ nhiều người nhưng chưa bao giờ khẳng định chính thức trên phương tiện truyền thông nào. Nay báo Nhân Dân thông qua cách chọn từ ngữ, hình ảnh về cuộc gặp trên, đã củng cố xác nhận ý kiến trên .

Trên thế giới có nhiều nước tiểu nhưng không nhược.Đài Loan, Nhật, Nam Hàn thậm chí cả Bắc Hàn tiểu nhưng không hề nhược.

Với hàng ngàn năm quật cường của dân tộc Việt Nam. Nước Việt không hẳn là nước tiểu vì nó có bề dày lịch sử rất đỗi hào hùng. Xin đừng biến nước Việt này thành nước nhược. Xin đừng lái cả một tinh thần bất khuất mấy ngàn năm thành những lời an ủi thầm thì, vỗ về nhau

– Chúng ta cạnh nước lớn, phải nhún nhường để sống.

Posted by: Viet Kieu | October 14, 2009

90 năm lời chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhà tù nhiều hơn trường học và lúc nào cũng chật ních người. Bất kỳ người nào có tư tưởng về chế độ khác đều bị bắt mà không cần xét xử. Chúng tôi không có quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận, ngay cả quyền tự do hội họp và lập hội cũng không có. Việc những tờ báo hoặc tạp chí có tư tưởng tiến bộ được coi là một tội nặng. Rượu cồn và thuốc phiện cùng với báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho công cuộc làm ngu dân của chính phủ. Nhà tù làm nốt phần còn lại…

Đối ngoại chúng cúi đầu uốn gối, cam chịu cắt đất đai của đất nước, ngậm hơi nuốt nhục dâng quyền lợi của nhân dân cho ngoại bang…

Chúng vụng về trong việc phát triển kinh tế đất nước , nhưng chúng lão luyện trong nghề đàn áp dã man và trong việc chế tạo ra lòng trung thành bắt buộc. Nếu các ông Ganh Di, de Valera sinh ra ở đây có lẽ đã bị chúng cho lên thiên đàng từ lâu rồi. Bị tất cả những thủ đoạn thâm hiểm của tòa án vây quanh, một chiến sĩ ở bản xứ khó lòng tiến hành giáo dục cho đồng bào mình hiểu bị áp bức, bóc lột thế nào mà không bị sa vào nanh vuốt của chúng…..

Yêu cầu

  • Ân xá toàn thể chính trị phạm ở Việt Nam
  • Tự do báo chí và tự do tư tưởng
  • Tự do lập hội và tự do hội họp
  • Thay đổi sắc lệnh bằng đạo luật.

Đoạn văn trên trích từ cuốn Lên Án Chủ Nghĩa Thực Dân, xuất bản năm 1959 tác giả Nguyễn Ái Quốc. Cuốn Vì Độc Lập Tự Do, Vì Chủ Nghĩa Xã Hội xuất bản năm 1970 của Hồ Chí Minh. Hai cuốn đều do nhà xuất bản Sự Thật phát hành.

Trong những ngày ở trại giam can tội có dấu hiệu  lợi dụng quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích nhà nước. Hàng ngày nghe đài tiếng nói Việt Nam và đọc báo Nhân Dân do trại giam cấp. Gần ngày 2-9 là ngày kỷ niệm quốc khánh và 40 năm thực hiện di chúc Hồ Chí Minh đài báo liên tục đưa những tấm gương sáng đã phấn đấu học tập di chúc của vị lãnh tụ vĩ đại này. Trở về nhà đi mua hết những cuốn sách liên quan đến chủ tịch Hồ Chí Minh để tìm hiểu và học tập.

Trong quá trình tìm hiểu và học tập tấm gương chủ tịch Hồ Chí Minh thấy có những điều sau:

90 năm đã qua từ khi Nguyễn Ái Quốc đọc lời lên án chế độ thực dân Pháp, 40 năm từ giã đồng bào để lại bản di chúc cho đời, lãnh tụ Hồ Chí Minh anh linh, sáng suốt giờ ở đâu xin chứng kiến những ước mong của mình đã thành hiện thực.

Đất nước ta ngày nay đang có những tiến bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật. Chúng ta đã sản xuất gần như hoàn toàn được một cái xe đạp và đang nỗ lực 40% hàng Việt Nam sản xuất trong một chiếc xe máy hoàn chỉnh. Về điện cơ đã hoàn thành tự túc % làm được chiếc quạt điện.

Chúng ta có thêm nhiều trường học đồng thời cũng có thêm nhiều nhà tù. 90 năm trước ở Hà Nội chỉ có duy nhất một nhà tù Hỏa Lò chật hẹp, thiếu thốn thì đến nay chúng ta đã có trại giam Cầu Diễn rộng lớn, khang trang rộng gấp 10 lần trại giam của bọn thực dân Pháp, có thêm trại giam  không khí trong lành ở ngoại ô và nhiều trại lẻ tẻ như Văn Hòa, Thịnh Liệt, Mễ Trì…ở Hà Nội. Đặc biệt như lời của chủ tịch đương nhiệm Nguyễn Minh Triết thì Việt Nam ta không có tù nhân chính trị, mà chỉ có những người vi phạm pháp luật hình sự. Năm vừa qua  riêng đặc xá đã tha 5000 phạm nhân, đủ biết số phạm nhân còn lại là bao nhiêu.

Về tự do  báo chí, tư tưởng ,chúng ta hiện nay có hơn 700 tờ báo, tạp chí các loại. Dưới sự quản lý của bộ TT-TT và những nghị định ban hành. 700 tờ báo và nhiều đài truyền hình này tha hồ tự do thoải mái ca ngợi công lao của Đảng và nhà nước trên mọi lĩnh vực. Ngoài một số báo phổ biến kiến thức khoa học còn rất nhiều báo có nhiều món ăn tinh thần bổ ích cho đời sống văn hóa như phim Trung Quốc, thi hoa hậu, các ngón ăn chơi, hưởng thụ xa hoa..hay những tin hấp dẫn như giết người, cướp của, hiếp dâm….tất cả những đề tài , nội dung như trên đều được khai thác tự do tối đa mà không bị sự kiểm soát  nào.

Hiện nay rượu cồn không còn được dùng nữa vì đời sống nhân dân đã lên cao, rượu ngoại tràn ngập thị trường từ Mac ten, Xo, Henessy, Camus…trong hàng nhà hàng, quán bar đầy ắp người uống. Bét nhất thì bia hơi Hà Nội phố nào cũng có dăm quán đông nghẹt người.

Thuốc phiện thì đã đi vào dĩ vãng vì cách dùng lôi thôi, phức tạp mất thời gian. Ngày nay người ta dùng dùng heroin, thuốc lắc. Chưa cần biết số lượng người dùng là bao nhiêu những nhìn vào con số mà công an bắt được hàng trăm bánh heroin mỗi năm, hàng chục kg thuốc lắc có thể dễ dàng hình dung sức tiêu thụ của thị trường để so sánh với thời thực dân Pháp.

Đất nước ta đã có quyền cho người dân tự do hội họp các loại hội như hội Dancing, hội yêu xe véc- pa, hội ‘’phượt’’ , hội hâm mộ Mai Cơn Giăc Sơn, Đan Trường, Lam Trường, Đàm Vĩnh Hưng, hội đồng hương, đồng môn, hội độc thân, hội các ông bố và bà mẹ đã ly dị..nói chung bất cứ hội nào mà không bàn đến chính sách, đường lối của Đảng và nhà nước đều tự do thoải mái mà lập.

Về luật pháp thì tuyệt nhiên đã không còn sắc lệnh nữa. Giờ chỉ có nghị định, nghị quyết, văn bản hướng dẫn, chế tài, thông tư… giúp điều chỉnh kịp thời diễn biến của xã hội mà luật pháp chưa theo kịp để xử lý.

Trong đối ngoại chúng ta không phải ươn hèn dâng đất và quyền lợi đất nước nhân dân như cách đây 90 năm. Mà chúng ta đàng hoàng chủ trương đối thoại hòa bình, vận dụng ngoại giao khéo léo để đàm phán về chủ quyền và quyền lợi đất nước. Trên tinh thần hữu nghị hai bên tôn trọng nhau, chúng ta sẵn sàng bày tỏ thiện chí một cách công khai cho nước bạn thấy. Những vấn đề về biên giới, hải đảo hay khai thác tài nguyên, đấu thầu đều được minh bạch và được sự đồng thuận cao của một số người.

90 năm đã qua đi, lời lên án của chủ tịch Hồ Chí Minh về chế độ tàn bạo, thủ đoạn nham hiểm của bọn thực dân đã khiến người dân Việt Nam sục sôi, dẫn tới tinh thần cách mạng 2-9-1945 toàn dân đứng lên lật đổ bọn chính quyền độc tài, bán nước, hại dân, bọn tay sai của đế quốc. Để dành lại quyền độc lập cho đất nước, toàn vẹn lãnh thổ, quyền lợi cho dân tộc và những phát triển vượt bậc như ngày nay. Điều ấy hiển nhiên là sự thật không có kẻ nào, thế lực nào có thể xuyên tạc được những nhân tố rõ ràng và thành quả tất yếu ấy.

Những lời phát biểu, những tham luận của cố chủ tịch Hồ Chí Minh thật là những bài học quý báu, hữu ích. Càng đọc và càng liên hệ mới thấy sự anh minh , tầm nhận thức sâu rộng của cố chủ tịch vĩ đại. Qua đó mới thấy sự ưu việt của chế độ hiện nay, một nhà nước, một chế độ do dân, vì dân, vì đất nước.

Posted by: Viet Kieu | October 14, 2009

Giang hồ thật hay giang hồ đểu

Trên diễn đàn Paltaks có đến gần 600 diễn đàn người Việt. Trong khi các nước lân cận cùng lắm chỉ vài ba diễn đàn như Thái Lan, Nhật….Thế mới thấy nhu cầu trao đổi thông tin,tự do ngôn luận và cả nhu cầu xả bức xúc, buôn chuyện của người Việt cũng rất cao.

Đa phần những diễn đàn này đều do người Việt hải ngoại bỏ tiền ra mua nếu số lượng người tham dự trên 250. Còn dưới số đó thì miễn phí, để bàn luận về hiện tình đất nước  hay giao lưu tình cảm, học kiến thức theo nhiều sắc thái khác nhau. Cá biệt một số ít diễn đàn chỉ rặt những giọng điệu vô học có ngay từ tên gọi. Như diễn đàn  miễn phí có tên ” Giang Hồ VN toàn cầu chống Cộng Sản” mà chủ diễn đàn có tên là Lý Mạnh Tiến nick name Nhạc Phi, một bác sĩ người Việt ở Ca Na Đa ( ở đây thì thầy lang cũng là bác sĩ ) tự xưng là nguyên cựu sĩ quan tình báo này nọ. Cùng điều hành diễn đàn này còn có một phụ nữ có nick là Nhạc Phòng Trà có tên là Đỗ Quỳnh Dao. Hầu như hai nhân vật này độc diễn hoàn toàn phần phát biểu. Bằng những giọng điệu cực kỳ vô học, chúng chửi bất kỳ ai mà chúng không ưa. Dù là cộng sản hay không cộng sản. Chúng nhân danh là người đấu tranh cho dân chủ, tự do và vì lý do ấy chúng tự cho mình quyền mạt sát chính quyền Việt Nam lẫn bất cứ ai không đồng tình với chúng. Bằng những ngôn ngữ cực kỳ mạt hạng.

Cái cách mà Lý Mạnh Tiến và Đỗ Quỳnh Dao thể hiện sự hăng hái chống Cộng sản thực ra rất nguy hiểm, không hề gây hại cọng lông chân  những người cộng sản ở Việt Nam. Mà sự hăng hái đê tiện như vậy dường như muốn cố ý cho những người trong nước thấy rằng. Đó, bọn dân chủ, bọn chống Cộng hải ngoại là vô học, là cay cú và khát máu như vậy đó. Đồng bào trong nước thấy rõ bộ mặt của bọn chống Cộng  hải ngoại chưa, hãy nghe giọng điệu của chúng thì thấy ngay bản chất của chúng. Lý Mạnh Tiến và đồng bọn Đỗ Quỳnh Dao ít nhiều đã thành công khi minh họa cho đài báo trong nước tuyên truyền về hình ảnh một đám người hải ngoại hiếu chiến mù quáng, ngu dốt và mông muội. Qua đó làm mất niềm tin giữa những người trong nước và đồng bào bên ngoài.

Lý Mạnh Tiến thường tự hào mình đấu tranh cho tự do, dân chủ ở Việt Nam một cách quang minh , chính đại khi công khai tên tuổi của mình. Hỡi ơi. Lý Mạnh Tiến ở tận bên kia bờ đại dương, công khai hay không thì nguy hại nỗi gì. Chả lẽ Lý Mạnh Tiến nghĩ rằng an ninh Việt Nam sang tận đó để mà xử  hắn hay sao. Thật hoang tưởng một cách lố bịch. Tiến không tầm cỡ bằng cái móng tay của Trotxky và Việt Nam cũng chả có lãnh đạo nào như Xtalin để mà làm việc ấy. Nhưng dường như bất chấp sự thật điều đó, Lý Mạnh Tiến huênh hoang cho rằng mình thật ” can đảm” khi ngồi bên  phương trời xa tít tắp hiên ngang xác nhận  tên tuổi chống Cộng, chấp nhận mọi hiểm nguy – do hắn tưởng tượng ra.

Không những ra sức mạt sát chính quyền Việt Nam bằng giọng điệu khiến người dân trong nước vô hình chung có cảm nghĩ không tốt về người Việt hải ngoại đi hồi năm 1975. Lý Mạnh Tiến liên tục gây nhiễu loạn  khi chứng cứ thì  mập mờ ,nói thì kịch liệt về những nhân vật như Nguyễn Sĩ Hoàng, Cù Huy Hà Vũ … vu cho những người này là do nhà nước Việt Nam dựng lên để phá phách phong trào này , đánh lạc hướng dư luận nọ. Ý đồ thâm độc này của diễn đàn Lý Nhạc Phi không nói mọi người suy luận một chút cũng hiểu.

Lý Mạnh Tiến nhận mình là một thành viên chủ chốt của diễn đàn X- cafevn. Qua tìm hiểu bên X- Cafevn nói rằng họ không xác nhận điều này và họ cũng không chứa những loại người như Tiến trong diễn đàn, đừng nới là thành viên chủ chốt hay quản trị .

Cả chuỗi việc làm có hệ thống và toan tính của những loại người như Lý Nhạc Phi, Đỗ Quỳnh Dao thực sự là có chủ định là bôi nhọ cộng đồng Việt Kiều hải ngoại tạo mâu thuẫn chia rẽ, gây sự thiếu thiện cảm của đồng bào trong nước với những cụm từ như ” dân chủ, nhân quyền, tự do…”.

Việc làm này có lợi cho ai ? Và ai là kẻ đứng đằng sau mưu đồ thâm hiểm này ?

Câu trả lời quá dễ .

Chúng ta không lạ gì trò lẫn vào đám đông, để rồi hò hét quá khích, thúc dục bạo loạn như vụ Thiên An Môn. Những kẻ tỏ vẻ hung hăng, hành động điên cuồng và nhanh chóng biến mất vài phút khi quân đội , cảnh sát có cớ ra tay đàn áp.

Thế mới biết vì sao đã 34 năm trôi qua, người dân trong nước không đặt nhiều niềm tin vào lời đồng bào của mình bên ngoài.

Older Posts »

Categories